Nghè Đồn (còn gọi là nghè Đụn) tọa lạc tại thôn Đụn, xã Nam Sách, TP Hải Phòng (trước đây thuộc xã Nam Hồng, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Đây là một di tích lịch sử, văn hóa tiêu biểu, gắn liền với truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước và tinh thần hiếu học của nhân dân địa phương.

Toàn cảnh Di tích Nghè Đồn
Theo các nguồn thần tích, bia ký và truyền thuyết dân gian, khu vực nghè Đồn xưa thuộc làng Đồn Bối, hình thành từ đầu Công nguyên. Thời Hai Bà Trưng, nơi đây giữ vị trí quân sự quan trọng với hệ thống đồn trấn thuận lợi cho cả đường bộ và đường thủy, góp phần phục vụ hoạt động của nghĩa quân vùng Đông Bắc. Cuối thế kỷ XV, Tiến sĩ Nguyễn Thẩm Lộc (đỗ khoa Đinh Mùi năm 1487) khi làm quan trong triều đã đề nghị tách làng Đồn Bối thành hai thôn: Đồn và Bối. Trong đó, thôn Đồn còn gọi là thôn Đụn – hàm ý vùng đất cao, trù phú; thôn Bối còn gọi là thôn Vối do có nhiều cây vối nước.
Hào khí 5 danh tướng họ Đào thời Hai Bà Trưng

Nghè Đồn nhìn chính diện
Nghè Đồn thờ danh tướng Đào Công Dung - một trong năm anh em danh tướng họ Đào. Thân phụ là Đào Công Chung, thân mẫu là Tạ Thị Phương, quê tại huyện Thạch Hà, phủ Thuận Thiên, châu Ái. Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa, ông cùng bốn người em là Đào Công Tùng, Đào Công Mai, Đào Công Cúc và Đào Công Chúc đã xin gia đình lên đường tòng quân, hội tụ cùng nghĩa quân tại Đồn Bối. Sau nhiều trận chiến đấu oanh liệt, cả năm anh em đều anh dũng hy sinh tại các địa danh khác nhau trong vùng. Ông Đào Công Dung hy sinh tại đồng Đồn Sứ; Ông Đào Công Tùng hy sinh tại đồng Bụt Sứ; Ông Đào Công Mai hy sinh tại đồng Chiềng Sứ; Ông Đào Công Cúc hy sinh tại đồng Mả Cả Sứ; Ông Đào Công Chúc hy sinh tại đồng Nam Sứ.

Tượng danh tướng Đào Công Dung
Sau khi chiến thắng quân Tô Định, đất nước giành được quyền tự chủ, Hai Bà Trưng trở lại trận địa cũ, thăm lại chiến trường, ban cho nhân dân làng Đồn Bối 300 quan tiền để mừng chiến thắng và lễ tạ những người đã hy sinh, đồng thời ban phong cho 5 anh em họ Đào là “Vạn cổ huyết thực”, ban tặng hai chữ “Đại vương”: Ông Đào Công Dung được phong là “Huyền thông Thạch thần Đại vương”, Ông Đào Công Tùng được phong là “Ngô chân Thạch thần Đại vương”, Ông Đào Công Mai được phong là “Đại bi tự Thạch thần Đại vương”, Ông Đào Công Cúc được phong là “Đô ma phù Đại vương”, Ông Đào Công Chúc được phong là “Vi cốc thần Đại vương”.
Tinh hoa khoa bảng - niềm tự hào đất học
Ngoài thờ Thành hoàng Đào Công Dung, nghè Đồn còn phối thờ các vị Tiến sĩ của làng đỗ dưới thời Lê: Nguyễn Thẩm Lộc đỗ Hoàng giáp khoa Đinh Mùi (1487) đời Hồng Đức khi 24 tuổi, làm quan đến chức Tham chính, nhà Mạc ông không tham chính, được khen tiết nghĩa. Phạm Tuấn đỗ Hoàng Giáp khoa Đinh Mùi (1487) đời Hồng Đức khi 35 tuổi, làm quan đến chức Thừa chính sứ. Nguyễn Thẩm Dỵ đỗ tiến sĩ khoa Nhâm Tuất năm Cảnh Thống thứ 5 (1502), làm quan đến chức Thừa chính sứ. Nguyễn Vĩnh Phúc (cháu nội Nguyễn Thẩm Lộc) đỗ tiến sĩ khoa Kỷ Mùi năm Nguyên Hoà 14 (1547), làm quan đến chức Tham tán công Thượng thư.
Địa chỉ đỏ trong kháng chiến cách mạng
Không chỉ là nơi thờ tự Thành hoàng, nghè Đồn còn gắn liền với truyền thống yêu nước, cách mạng của cán bộ và nhân dân địa phương; nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cũ. Ngày 11/10/1940, Tỉnh ủy Hải Dương họp tại nghè Đồn đề ra chủ trương vận động nhân dân ủng hộ khởi nghĩa Bắc Sơn. Ngày 12/10/1940, tại đống Mả sau nghè, đồng chí Nguyễn Mạnh Hoan đã nói chuyện với nhân dân trong trong xã và các xã bên về tình hình cách mạng cả nước và phát động nhân dân ủng hộ khởi nghĩa Bắc Sơn. Từ đó, phong trào cách mạng của nhân dân ngày càng lên cao... Nghè Đồn là địa điểm cán bộ Việt Minh của huyện, tỉnh bắt mối liên lạc, cất giấu các tài liệu quan trọng của Đảng trong suốt thời kỳ kháng chiến.

Quyển sách thần tích có niên đại thời Nguyễn (thế kỷ XIX–XX)
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nghè trở thành nơi tập trung nhân dân mít tinh mừng đất nước. Đồng thời, đây cũng là địa điểm tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ với nhân dân địa phương. Ngày 19/12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, thôn Đồn đã có nhiều công trình tôn giáo, tín ngưỡng phải tiêu thổ, hủy hoại. Nhưng, nghè Đồn vẫn được bảo tồn để làm sở chỉ huy chống lại các cuộc càn quét của giặc. Trong những năm 1949 - 1951, ngôi nghè là địa điểm hội họp của huyện, xã trong việc chỉ đạo phong trào kháng chiến của địa phương. Năm 1953, bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương đã giành được chiến công lớn ở huyện Nam Sách, gây ra cho địch nhiều tổn thất nặng nề. Nghè được chọn là nơi đặt trạm cứu thương của bộ đội chủ lực; nơi xây dựng trận địa của du kích và bộ đội địa phương để tổ chức bắn tỉa, uy hiếp quân giặc. Kết hợp với hoạt động quân sự, nghè Đồn còn là điểm phục kích, bao vây kinh tế không cho thuyền chở lương thực, thực phẩm của địch qua sông cung cấp cho thị trấn Nam Sách.
Trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, kẻ thù không một ngày nào đặt chân được lên đất Đồn Bối. Ngôi nghè là một hậu cứ quan trọng trong việc tiến hành kháng chiến trường kỳ của địa phương tại mặt trận đường 5. Hoà bình lập lại, chính quyền và nhân dân địa phương đã bắt tay vào tu sửa tôn tạo di tích nhằm giáo dục truyền thống đánh giặc ngoại xâm cho thế hệ trẻ.
Bảo tồn và phát huy giá trị di tích quốc gia

Đầu phượng cổ bằng đất nung thời Trần đã được người dân sơn lại
Trải qua những dặm dài lịch sử, nghè Đồn đã nhiều lần được trùng tu, tôn tạo vào các thời kỳ Hậu Lê và Nguyễn. Di tích hiện nay là kết quả của đợt trùng tu vào năm Duy Tân thứ 2 (1908). Công trình được xây dựng theo kiểu chữ Nhất (-), quy mô nhỏ, gồm một gian hai dĩ, mặt tiền quay về hướng Đông Bắc. Dù có quy mô khiêm tốn, nghè Đồn vẫn nổi bật bởi kiến trúc độc đáo, hài hòa trong trang trí. Các góc đao vút cong được tạo hình phù điêu rồng chầu, phượng mớm tinh xảo; lợp ngói mũi truyền thống, mang giá trị nghệ thuật cao. Kết cấu khung sử dụng gỗ tứ thiết bền chắc. Các chi tiết kiến trúc như cột cái, cột quân, cột hiên, kẻ hiên, con rường, câu đầu, trụ đấu… đều được chạm khắc họa tiết lá lật với đường nét mềm mại, tinh tế. Chính giữa bờ nóc trang trí phù điêu đắp nổi “lưỡng long chầu nguyệt”; hai đầu bờ nóc là hình hạp long hướng vào trung tâm, hình đao mác kéo dài, đuôi cuộn tròn vắt lên hồi đấu, tạo nên tổng thể cân đối, hài hòa và giàu tính thẩm mỹ.

Bia đá cổ “Đồn thôn tiên hiền thụy hiệu tế tự bi ký”
Hiện nay, di tích còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị, gồm: tượng danh tướng Đào Công Dung; ngai, bài vị, bát hương, mâm bồng; hai câu đối; bức đại tự bốn chữ Hán “Anh Liệt Chính Khí”; hòm sắc phong và một quyển thần tích có niên đại thời Nguyễn (thế kỷ XIX–XX). Bên cạnh đó, còn có đầu phượng bằng đất nung thời Trần; bệ voi đá gắn với hình tượng danh tướng Đào Công Dung; tượng hổ đá đặt trên sập đá kích thước dài 2m, rộng 1,5m. Đặc biệt, di tích hiện còn bảo tồn tấm bia đá cổ “Đồn thôn tiên hiền thụy hiệu tế tự bi ký”, được dựng vào tháng 10 mùa Đông năm Đinh Tỵ, niên hiệu Vĩnh Hựu 3 (1737). Bia có đỉnh chóp hình trái đào, mái trơn, tên bia khắc trong ô vuông, kích thước cao 125cm, rộng 67cm, dày 23cm; hai mặt khắc khoảng 500 chữ Hán, nét khắc sâu, hiện vẫn còn khá rõ. Không chỉ là sản phẩm tiêu biểu của nghệ thuật chạm khắc đá thời Hậu Lê (thế kỷ XVIII), tấm bia còn là nguồn tư liệu quý phục vụ nghiên cứu về tiểu sử, thân thế, sự nghiệp của các vị tiến sĩ làng Đồn Bối, đồng thời phản ánh truyền thống khoa bảng, hiếu học của người dân địa phương dưới thời phong kiến.

Bằng công nhận Di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia
Năm 1992, nghè Đồn được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia. Năm 2023, công trình tiếp tục được trùng tu bằng nguồn kinh phí Nhà nước và xã hội hóa, giữ gìn nguyên trạng kiến trúc cổ. Hằng năm, lễ hội nghè Đồn được tổ chức vào ngày 9–10 tháng 2 (âm lịch), gồm phần lễ trang nghiêm và phần hội với các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống của địa phương.
PHÙNG BẢN