81 ngày đêm Thành cổ Quảng Trị trong ký ức người thương binh Nguyễn Đức Thế

Ở tuổi 76, mang trong mình nhiều vết thương chiến tranh cùng di chứng chất độc da cam, ông Nguyễn Đức Thế, thương binh hạng 1/8, ở thôn Trần Hưng Đạo, xã Nam Sách vẫn giữ được sự minh mẫn, lạc quan và cần mẫn lao động. Cuộc đời ông là câu chuyện về một thế hệ thanh niên Việt Nam đã gác lại tuổi xuân, sẵn sàng lên đường chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Những ký ức chiến trường, những mất mát của đồng đội và niềm tự hào được góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975 vẫn luôn vẹn nguyên trong tâm trí người lính năm xưa.

 Ông Nguyễn Đức Thế kể lại những kỷ niệm với đồng đội tại chiến trường xưa cho đồng chí Trần Duy Quảng, Chủ tịch Hội cựu chiến binh xã Nam Sách nghe

Năm 1969, khi vừa tròn 19 tuổi, chàng thanh niên Nguyễn Đức Thế viết đơn tình nguyện nhập ngũ, là chiến sĩ Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 209, Sư đoàn 312. Nhắc lại những ngày đầu khoác trên mình màu áo lính, ông xúc động kể lại thời ấy, tinh thần yêu nước của thanh niên vô cùng mạnh mẽ. Hầu hết những người cùng trang lứa đều mong muốn được cầm súng bảo vệ Tổ quốc. Nhiều thanh niên viết đơn tình nguyện bằng chính máu của mình để thể hiện quyết tâm lên đường chiến đấu. Không ít người đang học đại học cũng gác lại giảng đường, tình nguyện nhập ngũ, sẵn sàng hy sinh vì nền độc lập dân tộc.

Trong ký ức của ông, tình đồng chí, đồng đội là điều thiêng liêng nhất. Sau hơn nửa thế kỷ, ông vẫn nhớ như in câu chuyện về đồng chí Nguyễn Hồng Thế, quê Chí Linh. Người đồng đội ấy vừa tổ chức đám cưới được hai ngày đã phải chia tay người vợ trẻ để lên đường nhập ngũ. Khi đơn vị đang huấn luyện tại huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa), người vợ trẻ lặn lội đi tàu hỏa từ Hải Dương vào tận doanh trại thăm chồng, mang theo những món quà quê giản dị như bánh gai, bánh đậu xanh. Cả tiểu đội quây quần bên đôi vợ chồng trẻ, gửi những lời chúc phúc trước ngày lên đường ra trận. Đến lúc chia tay, cả tiểu đội ra tiễn người vợ trở về quê. Hình ảnh ấy đã trở thành một kỷ niệm không thể nào quên, thể hiện sự hy sinh thầm lặng của những người ở hậu phương cũng như tình cảm gắn bó giữa những người lính.

Sau thời gian huấn luyện, tháng 7/1971, ông Nguyễn Đức Thế được cử sang chiến đấu tại Cánh đồng Chum, tỉnh Xiêng Khoảng (Lào). Đây là chiến trường ác liệt trong chiến dịch phản công lớn của liên quân Việt Nam - Lào nhằm đánh bại cuộc hành quân lấn chiếm quy mô lớn của Mỹ, quân đội Thái Lan và lực lượng phản động Vàng Pao. Trong điều kiện chiến đấu vô cùng gian khổ, bộ đội Việt Nam cùng lực lượng bạn Lào đã kiên cường bám trụ, chiến đấu suốt nhiều tháng liền.

Đến ngày 22/12/1971, Cánh đồng Chum được giải phóng. Đó là thắng lợi có ý nghĩa quan trọng, góp phần củng cố tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt Việt Nam - Lào. Với ông Nguyễn Đức Thế, đây cũng là dấu mốc đầu tiên trong cuộc đời quân ngũ, mở đầu cho chuỗi những năm tháng chiến đấu đầy gian khổ nhưng rất đỗi tự hào.

Năm 2004, ông được Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tặng Huân chương Hữu nghị vì những đóng góp trong sự nghiệp quốc tế cao cả.

Năm 1972, ông tiếp tục tham gia một trong những trận chiến ác liệt nhất trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước - chiến dịch bảo vệ Thành cổ Quảng Trị kéo dài suốt 81 ngày đêm, từ ngày 28/6 đến ngày 16/9/1972.

Nhắc đến Quảng Trị, giọng ông chùng xuống. Ông kể, những ngày ấy gần như luôn diễn ra trong mùa mưa. Bộ đội trú quân dưới hầm, nhiều lúc nước mưa ngập đến nơi nằm nghỉ. Pháo kích và bom đạn của địch diễn ra liên tục khiến việc nấu cơm gần như không thể thực hiện, lương thực chủ yếu là lương khô. Một bên là biển, một bên là núi giáp Lào, Thành cổ Quảng Trị ngày đêm chìm trong khói lửa.

Ông nhớ rõ từng loạt pháo cỡ lớn 203 ly từ tàu chiến ngoài biển bắn dồn dập vào Thành cổ. Những người lính giải phóng chiến đấu giành giật từng căn nhà, từng mét đất trên nền gạch vụn, cây cối gãy đổ. Trong khi đó, vũ khí trang bị của ta còn nhiều thiếu thốn, lực lượng cũng chênh lệch so với đối phương. Có những chiến sĩ vừa nhập ngũ, chưa sử dụng thành thạo súng, khi lên đạn vẫn chưa kịp mở chốt an toàn đã phải bước ngay vào trận đánh.

Chính tại chiến trường Quảng Trị, ông Nguyễn Đức Thế bị thương nặng. Ông bị gãy một phần ba dưới xương trụ cẳng tay trái, gãy xương đùi, cổ tay, ngón chân và bị phơi nhiễm chất độc da cam. Những vết thương ấy theo ông suốt cuộc đời, trở thành minh chứng sống động cho sự khốc liệt của chiến tranh cũng như tinh thần chiến đấu quả cảm của người lính Cụ Hồ.

Ông được Đảng, Nhà nước ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Chiến sĩ giải phóng, Huân chương Chiến công giải phóng, Kỷ niệm chương Quyết thắng

Tháng 3/1975, ông tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trực tiếp chiến đấu tại thị trấn Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Từ ngày 26 đến ngày 30/4/1975, cùng với các đơn vị chủ lực, tiến công giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Khoảnh khắc lá cờ cách mạng tung bay trong ngày 30/4 lịch sử đã khép lại hành trình chiến đấu đầy gian khổ của người lính trẻ năm nào.

Những đóng góp của ông Nguyễn Đức Thế đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Chiến sĩ giải phóng, Huân chương Chiến công giải phóng, Kỷ niệm chương Quyết thắng. Đặc biệt, năm 2004, ông được Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tặng Huân chương Hữu nghị vì những đóng góp trong sự nghiệp quốc tế cao cả.

Sau ngày đất nước thống nhất, ông trở về công tác tại Công ty Vận tải đường sông Hải Dương. Đến năm 1990, ông nghỉ việc về quê sinh sống và gắn bó với nghề nông cho đến nay.

Những đồng đội của ông từng vào sinh ra tử gặp mặt, ôn lại ký ức chiến trường, tưởng nhớ những đồng đội đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc

Ở tuổi xế chiều, dù sức khỏe chịu nhiều ảnh hưởng bởi thương tật và di chứng chất độc da cam, ông vẫn tích cực lao động sản xuất, sống giản dị, gần gũi với bà con trong thôn, xóm. Điều khiến ông luôn trăn trở là nhiều đồng đội năm xưa đã lần lượt qua đời, những người còn sống cũng tuổi cao, sức yếu. Cứ hai năm một lần, những đồng đội của ông vào sinh ra tử lại gặp mặt để ôn lại ký ức chiến trường, tưởng nhớ những đồng đội đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc.

Câu chuyện về người thương binh Nguyễn Đức Thế không chỉ là hồi ức của một cá nhân mà còn là hình ảnh tiêu biểu của thế hệ thanh niên Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh. Họ đã hiến dâng tuổi trẻ, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, để hôm nay đất nước được hòa bình, phát triển. Những cống hiến ấy luôn cần được trân trọng, tri ân và tiếp tục lan tỏa, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, lòng biết ơn và trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

PHÙNG BẢN

 

Phùng Bản - bài
QR Code
image advertisement
image advertisement

Tin mới
Thư viện ảnh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 0
  • Tất cả: 0