Làng Nhân Lý xưa là hợp nhất của hai trang Đào và Si, thuộc huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, lộ Đông Hải. Cuối thời Lê và đầu thời Nguyễn, Nhân Lý thuộc tổng An Lương, huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương (nay thuộc xã Nam Sách, thành phố Hải Phòng). Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), trấn Hải Dương đổi thành tỉnh Hải Dương. Năm 1918, triều đình Khải Định ban hành quy định bãi bỏ các huyện kiêm lý trực thuộc phủ, huyện Thanh Lâm không còn; các làng, xã được trực tiếp quản lý bởi phủ Nam Sách. Nhân Lý là làng khoa bảng tiêu biểu đứng thứ nhất của huyện Nam Sách cũ (có 12 tiến sĩ).

Toàn cảnh Đình Nhân Lý nhìn từ trên cao
Theo ghi chép lịch sử, dòng họ đầu tiên đến khai phá là họ Kiều, trong đó có cụ Kiều Thúc Ngữ - vị tướng dưới triều nhà Đinh. Sau đó, nhiều dòng họ khác như Lê, Lương, Phạm, Nguyễn Hữu, Nguyễn Văn, Nguyễn Xuân, Đặng Huy… lần lượt về lập nghiệp. Qua nhiều thế hệ, cư dân nơi đây đã cải tạo vùng rừng rậm, đầm lầy hoang sơ thành vùng cư trú trù phú, gắn bó mật thiết với nông nghiệp, trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa… Tên chữ “Nhân Lý” cũng mang ý nghĩa sâu sắc: “Nhân” tượng trưng cho nhân nghĩa, “Lý” nghĩa là làng - ngụ ý về một cộng đồng đoàn kết, gắn bó, sống theo lễ nghĩa và trân trọng việc học.
Trong lịch sử khoa cử Việt Nam, làng Nhân Lý nổi bật với truyền thống hiếu học, sản sinh ra 12 vị đại khoa tiêu biểu gồm: Nguyễn Minh Bích, Nguyễn Thế Khải, Nguyễn Hoản, Phạm Khắc Minh, Phạm Bá Khuê, Phạm Dương, Phạm Hưng Nhân, Phạm Công Sâm, Phạm Như Trung, Phạm Văn Tuấn, Phạm Khuê, Trần Thực.

Tên 12 vị đại khoa tiêu biểu của Nhân Lý được thờ trong đình
Tiếp nối vinh quang bảng vàng
Dòng họ Phạm tại làng Nhân Lý có tới 8 trên 12 vị đại khoa, trong đó có gia đình Phạm Bá Khuê với ba đời liên tiếp đỗ đại khoa. Dòng họ Nguyễn Văn có hai vị Tiến sĩ là Nguyễn Hoản và Nguyễn Minh Bích, trong khi dòng họ Nguyễn Thế có một vị Tiến sĩ là Nguyễn Thế Khải. Số lượng Tiến sĩ của Nhân Lý là minh chứng rõ nét cho truyền thống hiếu học được gìn giữ và phát huy mạnh mẽ trong từng dòng họ.
Theo đăng khoa lục, người đầu tiên của Nhân Lý đỗ đại khoa là Phạm Như Trung (1413 - ?) với danh hiệu Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân trong khoa thi Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442), khi ông 30 tuổi. Ông từng làm quan đến chức Đông các hiệu thư. Tiếp theo là Phạm Bá Khuê (1419 - ?) đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) trong khoa thi Quý Dậu, niên hiệu Thái Hòa 11 (1453). Ông làm quan đến chức Thị lang và được triều đình cử đi sứ nhà Minh vào năm 1464. Phạm Bá Khuê là ông nội của Phạm Bá Dương và là viễn tổ của các Tiến sĩ Phạm Hưng Nhân, Phạm Khắc Minh, Phạm Minh Tuấn, khẳng định vai trò nền móng của ông trong truyền thống hiếu học lâu đời của dòng họ Phạm tại làng Nhân Lý.

Đình Nhân Lý nhìn chính diện
Phạm Bá Dương (1470 - ?) đỗ Hội nguyên, Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân trong khoa Quý Sửu, niên hiệu Hồng Đức 24 (1493), khi ông 24 tuổi, làm quan tới chức Tham chính. Phạm Bá Dương là cháu nội của Tiến sĩ Phạm Bá Khuê, là bác của Phạm Hưng Nhân, ông nội của Phạm Khắc Minh, đồng thời là tằng tổ của Phạm Văn Tuấn. Phạm Hưng Nhân đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân vào khoa Quý Mùi, niên hiệu Thống Nguyên 2 (1523), khi ông 26 tuổi, làm quan tới chức Tham chính. Phạm Công Sâm (1504 - ?) đỗ Đệ nhất giáp đồng Tiến sĩ cập đệ nhị danh (Bảng nhãn) vào khoa Tân Sửu, đời Mạc Phúc Hải, niên hiệu Quảng Hòa 1 (1541), khi ông 38 tuổi, làm quan tới chức Thừa chính sứ. Phạm Khắc Minh (1545 - ?) đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân vào khoa Canh Thìn, niên hiệu Diên Thành 3 (1580), khi ông 36 tuổi. Ông làm quan tới chức Thượng thư, được phong tước hầu. Phạm Khắc Minh là bác của Tiến sĩ Phạm Văn Tuấn. Phạm Minh Tuấn (1564 - ?) đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân vào khoa Canh Tuất, đời Lê Kính Tông, niên hiệu Hoằng Định 11 (1610), khi ông 47 tuổi, làm quan tới chức Hàn lâm viện hiệu thảo. Phạm Minh Tuấn là cháu nội của Tiến sĩ Phạm Khắc Minh và là ông nội của Phạm Văn Tuấn. Phạm Văn Tuấn (1598 - ?) đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân vào khoa Bính Tuất, niên hiệu Phúc Thái 4 (1646), khi ông 49 tuổi, làm quan tới chức Giám sát. Phạm Văn Tuấn là cháu nội của Phạm Khuê, đồng thời là cháu họ của Phạm Khắc Minh và viễn tôn của Phạm Hưng Nhân, tất cả đều là các Tiến sĩ, tiếp nối truyền thống khoa cử lừng danh của dòng họ Phạm tại làng Nhân Lý.

Điện thờ chính
Dòng họ Nguyễn Văn tại làng Nhân Lý có hai vị Tiến sĩ tiêu biểu là Nguyễn Hoản (còn gọi là Nguyễn Hoãn) và Nguyễn Minh Bích. Nguyễn Hoản đỗ Hoàng giáp vào khoa Quý Sửu, niên hiệu Hồng Đức 24 (1493), và làm quan tới chức Hàn lâm viện Hiệu lý. Trong “Toàn Việt thi lục”, dưới dạng họa lại tác phẩm “Quỳnh Uyển Cửu ca” của vua Lê Thánh Tông, Nguyễn Hoản được ghi nhận có ba bài thơ, thể hiện tài năng văn chương xuất sắc cùng uy danh khoa cử của dòng họ Nguyễn Văn. Bên cạnh đó, dòng họ Nguyễn Thế có một vị Tiến sĩ tiêu biểu là Nguyễn Thế Khải, đồng thời cũng là vị Tiến sĩ cuối cùng trong số 12 vị Tiến sĩ danh tiếng của làng Nhân Lý. Ngoài 12 vị đại khoa, theo ghi chép từ bia ký và gia phả, làng Nhân Lý còn có 34 người đỗ Trung khoa và Tiểu khoa, bao gồm Hương cống, Cử nhân, Sinh đồ, Tú tài…

Điện thờ các quan văn
Trong số 12 vị Tiến sĩ, nhiều người từng giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình. Nguyễn Minh Bích đảm nhiệm chức Thượng thư; Phạm Bá Khuê và Nguyễn Thế Khải là Thị lang - chức quan đứng thứ hai sau Thượng thư; Phạm Bá Dương và Phạm Hưng Nhân giữ chức Tham chính; nhiều vị khác từng đảm nhiệm vai trò Giám sát ngự sử hoặc tham gia biên soạn kinh sách triều đình. Đặc biệt, Nguyễn Hoản còn là thành viên Hội Tao Đàn - Tổ chức văn chương nổi tiếng dưới triều vua Lê Thánh Tông, khẳng định uy tín học thuật và văn hóa lừng danh của làng Nhân Lý.

Xà ngang, đầu dư, xà chéo hoa văn chạm trổ tinh xảo
Nguyên khí hiền tài, anh hùng hào kiệt
Ngày nay, đình Nhân Lý vẫn giữ được kiến trúc bề thế, tọa lạc ở phía Tây Bắc làng, được xây dựng từ thời Lê. Theo ghi chép, đình khởi dựng từ thế kỷ 13 với quy mô ban đầu chỉ gồm 3 gian, dài 12m, rộng 7m. Năm 1696, nhân dân góp công, của để xây tòa Đại Bái nối với hậu cung, xây dựng tòa Đại Bái bắt đầu từ năm 1704 và phải đến năm 1713 (Vĩnh Thịnh thứ 9, đời Lê Hy Tông) mới hoàn thành. Tòa Đại Bái đình Nhân Lý có dáng dấp vững chắc, tạo nên vẻ uy nghi cho công trình. Tòa tiền sảnh được xây dựng xong vào năm 1754, dưới thời Lê Cảnh Hưng thứ 15. Các hàng cột gỗ lim có đường kính từ 50 đến 55cm, bền chắc với thời gian. Đình được xây dựng theo phong cách kiến trúc thời Lý - Trần, với các hình Long, Ly, Phượng trang trí trên nóc. Trong đó, Ly - Phượng chầu nguyệt mang dáng vẻ thanh nhã, uyển chuyển và đẹp mắt. Hoa văn chạm trổ tinh xảo với các họa tiết Long quần, Long mã, Hà mã sống động. Xà ngang, đầu dư, xà chéo được điêu khắc công phu với hình Long, Ly, Lân, Sóc, Diệp Vân, trúc… Đây là những nghệ thuật điêu khắc gỗ đặc sắc, mang giá trị thẩm mỹ cao.

Kiệu cổ hình rồng
Đình Nhân Lý thờ đức Thành hoàng Đào Tuấn Lương, ông thông hiểu kinh sử và tinh thông võ nghệ, là một vị dũng tướng phò tá Lý Nam Đế - người sáng lập nước Vạn Xuân đánh bại quân xâm lược nhà Lương vào thế kỷ 6. Với những chiến công hiển hách, ông được phong tước Sùng Văn Mậu công, Đương Cảnh Thành hoàng, Thượng đẳng Phúc thần Đại vương và được thờ tại nhiều nơi như Lang Khê, Đồng Khê và Bạch Đa... Đình Nhân Lý là nơi thờ tự chính, tôn vinh công lao của ông. Cũng tại đây thờ và ghi danh 12 vị đại khoa tiêu biểu kể trên.
Ngày 29/10/1957, đình Nhân Lý đã được Nhà nước công nhận là Danh lam thắng cảnh và Di tích Lịch sử, văn hóa theo Nghị định số 519-TTg. Ngày 13/7/1990, Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch cấp bằng công nhận là Di tích Lịch sử, văn hóa cấp quốc gia, khẳng định tầm quan trọng và giá trị lịch sử của đình.

Bằng công nhận Di tích Lịch sử, văn hóa
Để tưởng nhớ công đức của Thành hoàng Đào Tuấn Lương và 12 vị tiến sĩ, hằng năm vào ngày 10/2 âm lịch, nhân dân long trọng tổ chức lễ hội dâng hương, thu hút đông đảo người dân từ khắp nơi về thắp hương, chiêm bái. Lễ hội diễn ra trong 3 ngày, tổ chức nhiều hoạt động văn hoá văn nghệ, các trò chơi dân gian đã trở thành nét đẹp văn hoá dân tộc như cờ tướng, hát chèo, đấu vật,... Đặc biệt dân làng có tục làm rượu nếp, gọi là “Hoàng Tửu” để tế thần.
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, truyền thống hiếu học của làng Nhân Lý vẫn được gìn giữ và lan tỏa như một dòng chảy bền bỉ. Đó không chỉ là niềm tự hào về quá khứ khoa bảng rạng danh, mà còn là động lực hun đúc tinh thần học tập, ý chí vươn lên của các thế hệ hôm nay và mai sau. Từ mái đình cổ kính linh thiêng, ngọn lửa tri thức vẫn âm thầm được thắp sáng, góp phần làm nên cốt cách một vùng quê giàu truyền thống văn hiến.
PHÙNG BẢN